Thứ Hai, 27 tháng 10, 2008

Về lại phố xưa - Осенний Орёл

Những tấm ảnh này tìm thấy trên Internet, chúng được chụp vào tháng Mười, cuối mùa thu. Thấy chúng, ngây ra như gặp lại người thân, ngỡ ngàng trước gương mặt xa bao nhiêu năm mà chẳng hề in dấu vết đổi thay. Oryol – thành phố thời sinh viên – trong hành trình thăm quan của một blogger.

Về lại phố xưa - Осенний Орёл

(tiếp theo)


Quảng trường thành phố từ cửa sổ khách sạn nước Nga. Buổi sáng yên tĩnh, se lạnh và trong lành

Về lại phố xưa - Осенний Орёл

(tiếp theo)
 
6668822

Dọc bờ sông hướng về trung tâm thành phố. Nhà nguyện của nhà thờ Bogoiavlenskaya

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2008

Thu xưa


6507306-md


Dòng sông nào chảy qua nơi em
Mang cái lạnh của một miền băng tuyết
Mùa thu nào lá khô rơi chết
Công viên chiều ngập xác lá em đi.

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2008

Mỏi mệt


Đôi khi, trước câu hỏi có khỏe không, muốn nói tôi mệt lắm, chỉ muốn nhắm mắt, duỗi chân tay, mặc ruồi bu kiến đỗ trên mặt, mặc mọi thứ tuột vào một khoảng không mầu xám, không âm thanh, không hình ảnh, không cảm xúc, không gì hết, đến cả sự hoang mang cũng không… nhưng vẫn phải cười đáp lại: Cám ơn bạn, tôi khỏe.

Truong Hoa at 06/03/2012 04:55 pm comment
Những tâm sự rất thật


Thứ Năm, 2 tháng 10, 2008

"The Boat"



Theo BBC Vietnam

Tập truyện ngắn The Boat (Con Tàu) của nhà văn người Úc gốc Việt Nam Lê vừa lọt vào chung khảo một giải văn học của Anh.

Giải thưởng Dylan Thomas, dành cho các tác giả trẻ dưới 30, đã chọn Nam Lê là một trong sáu nhà văn vào chung kết năm nay.

Tên người thắng giải sẽ được công bố vào ngày 10 tháng 11.

Đây là thành công mới nhất của cây bút 29 tuổi, mà tác phẩm đầu tay của anh đã được giới phê bình Tây phương tán thưởng nhiệt liệt.

National Book Foundation, nơi trao giải Sách Quốc Gia của Mỹ, cũng vừa đưa Nam Lê vào giải “5 Under 35”, cho năm cây bút trẻ dưới 35 được xem là triển vọng nhất.

Thành công lớn

Ban giám khảo giải Dylan Thomas gọi The Boat là tác phẩm đầu tay “vô cùng cảm động và sáng tạo”.

Báo Washington Post, hồi tháng Bảy, nhận xét tác giả đã “kết hợp cả truy cứu tài liệu và lồng vào những giấc mơ trong những thế giới tưởng tượng rộng lớn”.

Một điều khiến tác giả được đánh giá cao là anh đã không đơn thuần khai thác nguồn gốc Việt Nam của mình, mà đã viết như một con người của nhiều nền văn hóa.

Bảy truyện ngắn của sách có bối cảnh ở thành phố Iowa, Colombia, Manhattan, Úc, Hiroshima, Iran và biển Đông.

Michiko Kakutani, nhà phê bình đầy ảnh hưởng của báo New York Times, đã khen Nam Lê “không chỉ viết bằng sự lão luyện, tự tin hiếm thấy ngay cả ở các nhà văn kỳ cựu mà còn thể hiện khả năng trực giác nhạy bén khi miêu tả xung đột tâm lý của những con người bỗng nhiên cảm thấy niềm tin và hy vọng của mình sụp đổ tan tác trước kỳ vọng của người thân hoặc vì sự thực tàn bạo của lịch sử”.

Năm 1978, gia đình Nam Lê vượt biên từ quê nhà Rạch Giá, trôi dạt sang trại tị nạn Mã Lai trước khi sang được Úc.

Cha của anh là người từng bị giam trong trại cải tạo ở Việt Nam.

Truyện ngắn được xem là hay nhất của sách, Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice (Tình Yêu và Danh Dự và Lòng Thương hại và Niềm Tự hào và Lòng Trắc ẩn và Sự Hy sinh), mang tính tự thuật.

Tình yêu và Danh dự và Thương hại và Tự hào và Cảm thông và Hy sinh



Copy từ Vn-roo Blog

Biography of Nam Le

Nam Le sinh tại Việt nam và lớn lên tại Úc. Anh đã nhận giải thưởng Pushcart của Hội Michener-Copernicus Mỹ. Anh đồng thời nhận những học bổng của Trại Viết văn Iowa, Trung tâm Nghệ thuật tỉnh Princetown, Viện Hàn lâm Phillips Exeter, Đại học East Anglia. Tiểu thuyết của anh đã xuất hiện trên những địa chỉ sau Zoetrope: All-Story, A Public Space, Conjunctions, One Story, NPR's Selected Shorts, và trong tuyển tập Best American Nonrequired Reading, Best New American Voices, Best Australian Stories, and Pushcart Prize. Nam Lê là biên tập viên mảng tiểu thuyết của tạp chí Harvard Review


Tình yêu và Danh dự và Thương hại và Tự hào và Cảm thông và Hy sinh

 
 (tiếp theo) 
 

Thứ Ba, 16 tháng 9, 2008

Về cố quốc

Колокола в московском храме

Bài "Một phần hồn Nga trở về cố quốc" đăng trên Tuổi Trẻ

Ngày 12-9, dưới cơn mưa thu kéo dài cả ngày, đông đảo dân Nga theo đạo Chính thống Nga, các chính khách, những yếu nhân của chính phủ, trong đó có Tổng thống LB Nga D. Medvedev cùng các cha cố của nhà thờ đã có mặt tại buổi lễ rước giàn chuông cổ trở về tu viện thánh Danilov sau gần 80 năm “lưu vong” trên đất Mỹ.

Giàn chuông của tu viện thánh Danilov được đúc năm 1682, là giàn chuông nổi tiếng nhất Matxcơva sau giàn chuông Kremlin. Năm 1930, khi tu viện bị ép đóng cửa, người ta đã định đem chuông đi nấu đồng. May thay, sau đó giàn chuông này được một người Mỹ tên Charles Crane mua lại và đem tặng Trường đại học Harvard. Từ năm 1931-2007, 18 quả chuông vốn là niềm tự hào của nhà thờ Chính thống giáo Nga đã ngự trên tháp chuông của khu ký túc xá Lowell House. Giàn chuông vẫn thường ngân vang mỗi sáng mỗi chiều chủ nhật ở Harvard, trong mỗi trận đấu bóng của học viên nơi này.

Việc thương lượng để xin lại giàn chuông nước Nga bắt đầu thực hiện vào giữa những năm 1980. Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là ông R. Reagan đã ủng hộ việc này. Phía Mỹ đề nghị chỉ trả lại chuông nếu bên Nga đúc cho họ một phiên bản của giàn chuông cổ. Giàn chuông nặng 25 tấn, và người ta đã tính để đúc được một phiên bản quý giá như thế phải tốn 4 triệu USD. Rất có thể chính số tiền lớn như vậy đã là trở ngại khiến việc hồi cố quốc của giàn chuông thiêng bị trì hoãn lâu đến thế. Khi đó, giám đốc Viện Nghệ thuật học quốc gia Nga Aleksei Komech từng phát biểu: “Cá nhân tôi cho rằng tốn khoản tiền ấy để lấy lại chuông thì thật là vô nghĩa! Ngân sách dành cho dự án quốc gia phục hồi các di tích văn hóa chỉ có 15 triệu USD!”.

Việc thương lượng xin lại giàn chuông bắt đầu đạt những kết quả khả quan vào năm 2004 khi ông Viktor Vekselburg, chủ tịch ban quản trị Quỹ lịch sử văn hóa Mối liên hệ giữa các thời đại, đứng ra nhận đảm bảo toàn bộ chi phí cho việc này. Sau đó, theo Hãng tin vesti.ru, phiên bản của giàn chuông đã được trao cho phía Mỹ cùng hai quả chuông khác làm quà tặng tỏ lòng biết ơn Trường ĐH Harvard. Giàn chuông này được đúc tại Nhà máy Voronezh, chất lượng của giàn chuông được các chuyên gia đánh giá cao.

Dự án rước giàn chuông cổ về cố quốc được thực hiện từng công đoạn. Ngay việc hạ chuông cũng là một vấn đề nan giải bởi với sức nặng hàng tấn của mỗi quả chuông như thế, những người thợ phải rất khéo léo và chính xác trong từng động tác. Cách đây tròn một năm, quả chuông đầu tiên được đưa về Nga theo hành trình Harvard - cảng New York - Saint-Petersburg - Matxcơva. Lần lượt 17 quả chuông còn lại cũng theo hành trình nói trên đã về đến chốn xưa của mình là tu viện thánh Danilov, Matxcơva. Ngày 8-7-2008, quả chuông cuối cùng và nặng nhất có tên Chuông Cả, nặng 12 tấn, đã rời tháp chuông của Lowell House. Và ngày 12-9-2008, sau gần 80 năm “lưu vong”, toàn bộ giàn chuông đã hồi cố hương.

Người Mỹ cũng lưu luyến khi phải chia tay với giàn chuông Nga. Sinh viên Benjamin Rapoport, người đánh chuông ở Đại học Harvard, nói: “Tiếng chuông này đem lại cho ta sinh lực. Mỗi lần đánh lên cho cảm giác như sự sung sức ở những vận động viên vậy”.

Ngày 12-9, tại Matxcơva đã diễn ra buổi lễ tạ ơn long trọng rước chuông cổ trở về. Giáo chủ Aleksei II đã vẩy nước thánh cho từng quả chuông để từ nay hồn chuông ở lại mãi với đất mẹ. Trong lời phát biểu của mình, giáo sĩ nói từ nay hằng ngày, tu viện thánh Danilov sẽ cầu nguyện cho tất cả những ai từng góp phần đúc chuông, cứu chuông, gìn giữ chuông và đưa chuông trở lại nước Nga. Ngài cũng tỏ ý mong muốn rằng mối liên hệ văn hóa giữa tu viện và Trường đại học Harvard từ nay sẽ được giữ vững, rằng “những dự án như thế này thúc đẩy thêm sự hiểu biết lẫn nhau, điều vô cùng quan trọng trong thời điểm hiện nay”.

Tiếng chuông đầu tiên của giàn chuông do Tổng thống LB Nga Dmitry Medvedev cùng ông Viktor Vekselburg đánh lên. Tiếng chuông đổ liên tục gần nửa giờ đồng hồ trong niềm vui và xúc động đến rơi nước mắt của nhiều tín đồ Chính thống giáo Nga. Tiếng chuông ấy hẳn có khác khi ngân vang trên đất người! Những quả chuông ở Nga không chỉ là vật thiêng của nhà thờ, chúng còn mang trong mình hơi thở của lịch sử, có danh tính, tiểu sử, từng chịu đựng đau đớn, trải qua nỗi bất công mà giữ mãi những vinh quang huyền thoại.

Quả không sai khi người ta nói một phần của hồn Nga nằm ở những giàn chuông. Vì thế ngày 12-9 năm nay là một trong những ngày đáng nhớ của người Nga, khi được hân hoan đón nhận phần tâm hồn lưu lạc của mình sau tám thập niên xa biệt.

THỤY ANH (từ Liên bang Nga)

Câu chuyện giàn chuông Danilov nhắc người Nga nhớ lại số phận quả chuông ở Uglich. Hoàng tử nhỏ Dmitry, con trai của Ivan Hung đế, sau khi vua cha mất đã bị đưa về thành Uglich và, theo dư luận, bị người anh vợ của Nga hoàng Fyodor I là Boris Godunov sát hại vào tháng 5-1591.

Quả chuông thành Uglich đã ngân vang báo cho dân chúng biết về cái chết oan ức ấy để rồi bị xử hình “xẻo tai, cắt lưỡi, đánh đòn, đày đi biệt xứ” y như một con người!

Trong một đoản văn của mình, văn hào Nga Solzhenitsyn từng kể về quả chuông này: “Quả chuông vì đã rung lên những lời trung thực mà từng chịu một hình phạt kỳ quái - bị tước mất lưỡi chuông, bị cắt một bên quai chuông để rồi chẳng bao giờ còn được treo trên bệ chuông nữa.

Hơn thế, chuông còn bị roi quất, và rồi còn bị lưu đày xa hơn hai ngàn dặm đến Tobolsk trên một chiếc xe ngựa kéo”.

(Trích đoản văn "Quả chuông thành Uglich" viết năm 1996, được in trong cuốn "Aleksandr Solzhenitsyn, truyện ngắn và đoản văn" của NXB ACT, năm 2005)

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2008

Buồn

Buồn, rất buồn vì những ầm ĩ quanh bộ phim "Linh hồn Việt cộng". Bỏ ý định copy, chỉ để lại những đường links để cùng đọc. 

Thư ngỏ của nhà văn - Đạo diễn Minh Chuyên. Blog Lê Thiếu Nhơn 

Loạt bài "Một linh hồn phiêu dạt trở về nhà" của Homer Steedly được chuyển ngữ từ trước khi có những ầm ĩ quanh bộ phim. Blog Vn-roo 

Và đây là trang web riêng của Homer Steedly với nguyên bản "A Wandering Soul Returns Home"các tư liệu khác 

VTV nữa này. 

Đủ cho câu chuyện này chưa nhỉ? Click here to watch this film


Thứ Năm, 7 tháng 8, 2008

Đống củi cháy và bầy kiến



Nhà văn đoạt giải Nobel Alexander Solzhenitsyn, tác giả “Một ngày trong đời của Ivan Denisovich”, vừa qua đời ở tuổi 89, tại Moscow, kết thúc một cuộc đời đầy bão tố và biến động trải dài suốt một thế kỉ.
Đống củi cháy và bầy kiến
(Alexander Solzhenitsyn)

Thứ Tư, 30 tháng 7, 2008

Ngẫu nhiên?

Hoà Bình

... Hẹn em Hiền khi có dịp cho bám càng về Hoà Bình, nhưng chưa thực hiện được. Từ giờ tới lúc em rời bỏ chỗ này chắc vẫn không thu xếp được. Thôi cứ để vậy đi.

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2008

Về lại phố xưa - Церкви


...

My Oryel 127
























Về lại phố xưa - Спасское (храм Спаса Преображения)


123

Duyên nợ với tiếng Nga đứt đã gần hai chục năm. Đôi khi ai đó hỏi ngày xưa sống nơi nào trên đất Nga, nếu trả lời người Việt thường giải thích lòng vòng vì thành phố nhỏ, ít người biết, nhưng với người Nga không cần thiết làm thế, bởi đây là quê hương của nhiều nhà văn: Leskov, Bunin, Fet và nổi tiếng nhất là Turgenev.

Về lại phố xưa - Спасское (дом -музей )



0.So do


Thứ Hai, 7 tháng 7, 2008

Về lại phố xưa - Чужое воспоминание


Đêm phố cũ

Bài này có thể ai đó đã đọc trên Nhà cũ hoặc sẽ được đọc trong loạt bài THA PHƯƠNG trên blog Lợi Trần. Tôi không có ý định tô mầu cho những tháng ngày ở Nga. Những dòng viết dưới đây không phải của tôi, nhưng viết về tôi, về những tháng năm đó: 

Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2008

Về lại phố xưa - Прошлое лето


Mùa hạ còn đâu
(Nhạc: Phú Quang - Thơ: Hoàng Hưng)
Đường phố trong anh mùa đông
Sao áo em mùa hạ
Áo mầu xanh cuộn sóng
Em mang trên ngực biển đầy
Ngày nào biển làm ta say
Biển như ngày hè đẹp lắm
Nhưng mùa hạ đã ra đi
Chân trời xa không ngấn nắng
Sao em còn mang áo mỏng
Có còn mùa hạ nữa đâu
Sao em làm lòng ta đau
Nhớ ngọn lửa hè đã tắt
...
Đường phố trong anh mùa đông
Hãy để mùa hạ yên nghỉ

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2008

Về lại phố xưa - Наш институт



41 Komsomolskaya - Oryol University


Về lại phố xưa - Tô mầu


 
Xem ảnh entry trước bạn bè, và ngay cả vợ, ai cũng bảo tưởng nước Nga thế nào, nghèo quá Việt Nam. Tự dưng buồn buồn. Rồi tự bảo đấy là bởi chàng hoạ sĩ kia muốn tả trung thực. Nếu muốn, cùng một ngôi nhà,
có thể chụp thế này


 
hoặc thế này



Thấy đẹp hẳn, sang hẳn. Gọi là gì nhỉ, “làm hàng” hay tô mầu?

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2008

Về lại phố xưa - Мой дом


Bắt đầu bằng một mẫu câu quen thuộc thuở bập bẹ học ngoại ngữ. Đây là Zakhar Iashin, người được kể trong entry lần trước. Căn cứ nickname đoán anh ta sinh năm 76, còn theo comment trên blog nghề nghiệp là hoạ sĩ thiết kế đồ hoạ, có một cô con gái 3 tuổi tên Ira. Anh không phải là dân gốc Oryol, mới chuyển đến ở vài ba năm.

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2008

Về lại phố xưa - Поезд и Вокзал

SMS của bạn: “Nhan vua di Nga ve a?” Trả lời: “The cung hoi. Di qua mang”. Hôm nay đi tiếp. Phải nhắc lại, những bức ảnh này lấy từ trang Google, nhưng gợi nhớ rất nhiều, tưởng như chính mình chụp, nhớ chính xác từng góc độ.

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2008

Về lại phố xưa - Москва


Dạo này toàn làm chiều, các con đang nghỉ hè, sáng nào ba bố con cũng 10h mới dậy. Mưa nhiều, chợt nhận ra đã cuối tháng Sáu. Và lang thang…

Khi đặt chân lên nước Nga tôi lưu lại kí túc trường Lomonosov trên đồi Lênin. Sắp vào năm học mới, rất đông sinh viên, đủ mọi mầu da, sắc tộc, phần đông đến từ các nước đang phát triển, chúng tôi chỉ lưu lại đây ít ngày, chờ chuyển tiếp về các thành phố khác. Giờ ăn, dù khu kí túc có vài nhà ăn, khắp nơi đông nghẹt người xếp hàng. Mấy hôm ở đó tôi thường bỏ bữa, chỉ ăn bánh biscuits và uống sữa trừ bữa, vì không đủ kiên nhẫn xếp hàng, tôi sốt ruột muốn dành thời gian thăm quan.

Các bạn cùng lớp, ai có người thân, bạn bè ở đây đều đã tản mát khắp thành phố. Ngơ ngác, bé nhỏ trước mênh mông thành phố lạ, nhưng với vốn tiếng Nga học bốn năm trong nước, tôi cũng đủ tự tin lang thang một mình trong thành phố.

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2008

Về lại phố xưa

Dom 115 Komsomolskaya ulitsa

Ngôi nhà số 115 phố Komsomolskaya, nơi tôi đã sống. Một căn phòng đầu hồi, trên
 tầng 2, có 2 cửa sổ, một trông sang nhà 117, một nhìn khoảng ra sân sau .

Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2008

100 bài thơ chân dung của Xuân Sách (phần 3)



Số phận của ‘Chân dung Nhà văn’
LêQuỳnh

100 bài thơ chân dung của Xuân Sách (phần 2)

51.
Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
Đợi mùa sau sẽ hay.

52.
Sớm nay nhấp một chén trà
Bâng khuâng tự hỏi đâu là núi đôi
Những người cùng làng với tôi
Muốn sang đèo trúc muộn rồi, đừng sang.

53.
Biên kia biên giới anh sang
Trước giờ nổ súng về làng làm chi
Mẫn và tôi tính chi li
Gia đình má Bảy lấy gì nuôi anh.

54.
Anh chẳng còn sống mãi
Với thủ đô luỹ hoa
Để những người còn lại
Bốn năm sau khóc oà.

55.
Chim chơ rao cất cánh ngang trời
Tình như chớp trắng nháy liên hồi
Đám mây cánh vạc tan thành nước
Mà đất ba dan vẫn khát hoài.

56.
Sinh ra trong gió cát
Đất Nghệ An khô cằn
Bao nhiêu năm nằm vạ
Trước cửa hội nhà văn.

57.
Đem than từ vùng mỏ
Về bán tận thủ đô
Bị đập chiếc cán búa
Hoá ra thằng ngẩn ngơ.

58.
Tưởng anh dọn về làng xưa
Ngờ đâu về tận thủ đô nhận nhà
Sướng cái bụng lắm lắm à
Đêm là đèo gió, ngày là Hồ Tây.

59.
Với tiếng sáo thiên thai dìu dặt
Mở ra dòng thơ mới cho đời
Bỏ rừng già về vườn bách thú
Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi.

60.
Cửa sông cất tiếng chào đời
Rồi ra đi những vùng trời khác nhau
Dấu chân người lính in mau
Qua miền cháy với cỏ lau bời bời
Đọc lời ai điếu một thời
Tan phiên chợ Giát hồn người về đâu?

61.
Nếu Trương Lương không thổi địch sông Ô
Liệu Hạng Võ có lên ngôi hoàng đế?
Nhưng buồn thay đã đánh mất Ngu Cơ
Đời còn gì, và thơ cũng thế.

62.
“Xưa tôi yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi”
Nay tôi yêu quê hương vì có ô che nắng
Có ghế ngồi viết những điệu thơ vui.

63.
Nhen lên một bếp lửa
Mong soi gương mặt người
Bỗng cơn giông nổi dậy
Mây che một khung trời
Đất sau mưa hỡi đất
Màu mỡ trôi về đâu
Còn trơ chiếc guốc võng
Trăng mài mòn canh thâu.

64.
Một chút hương thơm trải bốn mùa
Mười năm lăn lóc chốn rừng già
Quay về khứng chịu cơn mưa móc
Đất trắng mưa rồi đất lại khô.

65.
Xưa thơ anh viết không người hiểu
“Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.

66.
Người đi, ừ nhỉ người đi thật
Đi thật nhưng người lại trở về
Nhẹ như hạt bụi, như hơi rượu
Mà đắm hồn người trong tái tê.

67.
Không có vua thì làm sao có tướng
Nên về hưu vẫn phải chết ở chiến trường
Kiếm sắc chém bao nhiêu đầu giặc
Để vàng tôi trong lửa chịu đau thương.

68.
Hồn đã vượt Côn đảo
Thân xác còn trong lao
Bởi nghe lời mẹ dăn
Nên suốt đời lao đao.

69.
Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng
Mắt trông về tám hướng phía trời xa
Chân dép lốp bay vào vũ trụ
Khi trở về ta lại là ta
Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát
Trông về Việc Bắc tít mù mây
Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường hoa ở đây.

70.
Tay em cầm bông bần li
Bờ cây đỏ thắm làm chi não long
Chuyện tình kể trước rạng đông
Hoàng hôn ảo vọng vẫn không tới bờ
Thiên đường thì quá mù mờ
Vĩ nhân tỉnh lẻ vật vờ bóng ma
Hành trình thơ ấu đã qua
Hỡi người hàng xóm còn ta với mình.

71.
Cùng đoàn quân anh đi tới thành phố
Bị lạc đường về hội nhà văn
Ừ nhỉ bao giờ quay trở lại
Với năm anh em trong một chiếc xe tăng.


72.
Ván bài lật ngửa tênh hênh
Con đường thiên lí gập gềnh mãi thôi
Thay tên đổi họ mấy hồi
Vẫn chưa tới được chân trời mộng mơ.

73.
Mẹ và em đang ở đâu
Giữa vùng cát trắng đêm thâu gió lùa
Ổ rơm teo tóp ngày mùa
Xác xơ thân lúa vật vờ thân tôi
Bờ tre kẽo kẹt liên hồi
Bầu trời vuông với một ngôi sao dời
Đánh thức tiềm lực mấy hồi
Ai? Chẳng ai đáp lại lời của tôi.

74.
Anh đã đứng trước biển
Cù Lao Chàm kia rồi
Nhưng khoảng cách còn lại
Xa vời lắm anh ơi.

75.
Ôi thằng Trần Mạnh Hảo
Đi phỏng vấn Chí Phèo
Lão chết từ tám hoánh
Đời mày vẫn gieo neo
Còn cái lão Bá Kiến
Đục bản in thơ mày
Bao giờ mày say rượu
Bao giờ thì ra tay.

76.
Em ơi buồn làm chi
Em không buồn sao được
Quan họ đã vào hợp tác
Đông Hồ gà lợn nuôi chung
Bên kia sông Đuống em trông
Còn đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng.

77.
Người về đồng cói người ơi
Phía ấy mặt trời mọc lại
Một thời xa vắng, xa rồi
Phủ Khoái xin tương oai oái
Ở đời gặp may hơn khôn
Nào ai dám ghen dám cãi
Người đã đi Mĩ hai lần
Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!

78.
Anh đứng thành tro em có biết
Hôm qua lại gặp chuyến xe bò
Vẫn anh đi với vầng trăng cũ
Áo đỏ bên cầu đợi ngẩn ngơ.

79.
Ôi màu tím hoa sim
Nhuộm tím cuộc đời dài đến thế
Cho đến khi tóc bạc da mồi
Chưa làm được nhà còn bận làm người
Ngoảnh lại ba mươi năm
Tím mấy ngàn chiều hoang biền biệt.

80.
Kòn trô dấn bước đường chinh chiến
Nửa gánh giang hồ nửa ái ân
Ngàn sau sông Dịch còn tê lạnh
Tráng sĩ có về với bến xuân.

81.
Văn chương thuở ấy như bèo
Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời
Giấc mộng lớn đã bốc hơi
Giấc mộng con suốt một đời bơ vơ
Ước chi cụ sống tới giờ
Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn

82.
Cũng muốn tin vào hoa hồng
Tin vào điều không thể mất
Cả tôi và cả chúng ta
Đứng trong đầm lầy mà hát
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm đã chết
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm ai giết!

83.
Bốn mươi tuổi mới vào đời
Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ
Giữa hai trận tuyến ngu ngơ
Trong lòng Hà nội bây giờ ở đâu?

84.
Vỡ lòng câu thơ viết
Mời bác ngủ bác ơi
Đêm nay bác không ngủ
Nhà thơ ngủ lâu rồi.

85.
Thiên thai từ giã về dương thế
Nhắc chi ngày ấy buồn lòng ta
Sân đình ngất ngưởng ngôi tiên chỉ
Uống rượu say rồi hát quốc ca.

86.
Khi về xuôi anh mang theo
đồng bạc trắng hoa xoè
Với một mối tình sơn cước
Mùa lá rụng trong vườn
năm này qua năm khác
Đám cưới vẫn không thanh
vì giấy giá thú chửa làm xong.

87.
Sắp cưới bỗng có thằng phá đám
Nên ông chửi bố chúng mày lên
Đầu chày đít thớt đâu còn ngán
Không viết văn thì ông viết phim

88.
Biết mấy mươi chiều khói thuốc bay
Quê nhà vạn dặm khuất trùng mây
Lui về kí ức chân trời cũ
Uống chén rượu buồn không dám say.

89.
Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ôi
Cái nợ lên xanh rũ sạch rồi
Cửa Việt tung hoành con sóng vỗ
Sông Hương lặng lẽ chiếc thuyền trôi
Sử thi thành cổ buồn nao dạ
Chuyện mới Đông Hà tái nhợt môi
Từ biệt chốn xưa nhiều ánh lửa
Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ôi!

90.
Dẫu chín bỏ làm mười
hay mười hai cũng mặc
Chẳng ai dung thiên sứ đất này
Dụ đồng đội vào trong mê lộ
Rồi bỏ đi du hí đến năm ngày.

91.
Giặc giã yên rồi
về xoay khối vuông Ru bích
Đoán hậu vận rủi may
thưa quí vị, xin mời
Xanh tím trắng đỏ vàng đều đủ hết
Ta cùng vào cuộc chơi
Không gian bốn năm chiều
thời gian xin tuỳ thích
Đảo lộn tùng phèo thật giả trắng đen
Tôi như cục xà bông thứ thiệt
Cứ đổ rượu vào
hình quí vị sẽ hiện lên.

92.
Người người lớp lớp
xông ra trận
Cờ đỏ
mưa sa
suốt dặm dài
Mở đột phá khẩu
tiến lên
nhất định thắng
Lô cốt mấy tầng
đè nát vai
Dẫu sông núi cỏ cây làm chứng
Hồn vẫn treo trên
Vọng hải đài.

93.
Ba lô trên vai từ đêm mười chin
Một tiếng chim kêu sáng cả rừng
Thì cứ khắc đi rồi khắc đến
Sao còn ngồi đó cụ già Khương?

94.
Tuổi hai mươi xung phong lên Tây bắc
Nguyện hi sinh chiến đấu dưới cờ
Lại xung phong vào Nam đánh giặc
Với bà mẹ đào hầm đầu bạc phơ phơ
Hoà bình rồi tiến lên đổi mới
Bất ngờ ngã ngựa chốn non cao
Dẫu nhiều lần bị lừa như thế
Thì cuộc đời vẫn đẹp sao
Tình yêu vẫn đẹp sao!

95.
Trái tim với nỗi nhớ ai
Như cây trong phố đứng hoài chờ trăng
Như người đàn bà ngồi đan
Sợi dọc thì rối, sợi ngang thì chùng.

96.
Ra đi từ bến My Lăng
Bao năm dấu kín ánh trăng trong lòng
Tuổi già về lại bến sông
Trăng kia đã lặn phải chong đèn dầu.

97.
Giấu một chùm thơ trong chiếc khăn tay
Em hăm hở đi tìm người trao tặng
Những kẻ phong lưu, những tên du đãng
Mấy ai biết được hương thầm của cô gái xóm đê.

98.
Chú dế góc sân hồn nhiên ca hát
Hát thành thơ như nước triều lên
Khi khôn lớn lại hồn nhiên đi giữa
Biển một bên và em một bên.

99.
Người đàn bà mà tôi ao ước
Trên vành đai chống Mĩ những năm xưa
Tình yêu đã lụi tàn cùng kí ức
Nhưng còn đây tội lỗi đến bao giờ

100.Tự hoạ
Cô giáo làng tôi đã chết rồi
Một đêm ra trận đất bom vùi
Xót xa Đình Bảng người du kích
Đau đớn Bạch Đằng lũ trẻ côi
Đường tới chiến công gân cốt mỏi
Lối vào lửa đạn tóc da mồi
Mặt trời ảm đạm quê hương cũ
Ở một cung đường rách tả tơi.

 

100 bài thơ chân dung của Xuân Sách (phần 1)


100 bài thơ chân dung các nhà văn, nhà thơ Việt Nam của Xuân Sách, nhà thơ mới qua đời ngày 2/6/2008. Đọc và thử làm trắc nghiệm kiến thức văn học cách mạng Việt Nam. Đến 1/2 số bài tôi không có câu trả lời. Trượt là cầm chắc nếu đi thi.
Copy từ trangViệt Nam Cây Đa.

1.
Trên biển lớn lênh đênh sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem

2.
Xung kích tràn lên nước vỡ bờ
Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ
Bay chi mặt trận trên cao ấy
Quên chú nai đen vẫn đứng chờ.

3.
Dế mèn lưu lạc mười năm
Để o chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền Tây sen đã tàn phai
Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang.

4.
Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ
Sóng gầm sông Lấp mấy ai hay
Cơn bão đến động rừng Yên Thế
Con hổ già uống rượu giả vờ say

5.
Bác Kép Tư Bền rõ đến vui
Bởi còn tranh sáng bác nhầm thôi
Bới tung đống đống rác nên trời phạt
Trời phạt chưa xong bác đã cười.

6.
Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lắm
Tờ hoa lại trút lệ ưu phiền.

7.
Các vị La hán chùa Tây phương
Các vị già quá tôi thì béo
Năm xưa tôi hát vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa
Tôi hát chiến tranh như trẩy hội
Đừng nên xấu hổ khi nói dối
Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu

8.
Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thong
Chao ơi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có, có gì chung.

9.
Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu

10.
Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn
Ta nghĩ tới vàng sao từ thuở ấy
Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy
Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa
Thay đổi cả cơn mơ
Ai dám bảo con tầu không mộng tưởng
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tầu, ta cũng uống
Mặt anh em trong suối cạn hội nhà văn

11.
Trăng sáng soi riêng một mặt người
Chia ly đôi bạn cách phương trời
Ước mơ của đất anh về đất
Im lặng mà không cứu nối đời.
12.
Nên danh nên giá ở làng
Chết vì ông lão bên hàng xóm kia
Làm thân con chó xá gì
Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn.

13.
Một nắm xương khô cũng gọi mỡ
Quanh năm múa bút để mua vui
Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược
Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi.

14.
Phất rồi ông mới ăn khao
Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời
Ông đồ phấn, ông đồ vôi
Bao giờ xé xác để tôi ăn mừng.

15.
Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan.

16.
Vốn cùng nhân dân tiến lên
Mùa đông năm ấy bỏ quên cờ đào
Quay về núp bóng ca dao
Giật mình nghe một tiếng chào
Văn Ngan?

17.
Hỏng đôi mắt phải đâu là mất hết
Trong cặp còn hồ sơ điệp viên
Ông cố vấn chẳng sợ gì cái chết
Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên.

18.
Đám cháy ở sau lưng
Đám cháy ở trước mặt
Than ôi mày chạy đâu
Dưới vòm trời quen thuộc
Đốt bao nhiêu cỏ mật
Không bay mùi thơm tho
Càng hun càng đỏ mắt
Quay về thung lũng cò.

19.
Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chồi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn

20.
Trường Sơn đông em đi hái măng
Trường Sơn tây anh làm thơ cho lính
Đời có lúc bay lên vầng trăng
Lại rơi xuống chiếc xe không kính
Thế đấy! Giữa chiến trường
Nghe tiếng bom cũng mạnh!

21.
Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra
Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà
Lửng lơ giữa khoảng trong xanh ấy
Để mối đùn lên cái gốc già.

22.
Trời thí cho ông vụ lúa chiêm
Ông xây sân gạch với xây thềm
Con đường mòn ấy ông đi mãi
Lưu lạc lâu ngày mất cả tên.

23.
Hai lần lỡ bước sang ngang
Thương con bướm đậu trên dàn mồng tơi
Trăm hoa thân rã cánh rời
Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ.

24.
Nhọc nhằn theo bước con trâu
Hỡi người áo trắng nông sâu đã từng
Mỗi bước đi một bước dừng
Mà sao vẫn lạc giữa rừng U Minh.

25.
Mấy lần đất nước đứng lên
Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm
Hại thay một mạch nước ngầm
Cuốn trôi Đất Quảng lẫn rừng Xà Nu.26.
Từ trong hom giỏ chui ra
Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi
Định đem cái lạt buộc người
Khổ thân ông lão vịt trời phải chăn.

27.
“Sông Mã xa rồi tây tiến ơi...”
Về làm xiếc khỉ với đời thôi
Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm
Sống tạm cho qua một kiếp người.
“Áo sờn thay chiếu anh về đất”
Mây đầu ô trắng, Ba Vì xanh
Gửi hồn theo mộng về tây tiến
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

28.
Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật
Biết ông sằng phẳng tự bao giờ
Cái con thò lò quay sáu mặt
Vồ hụt mấy lần ông vẫn trơ.

29.
Cha và con... và họ hàng và...
Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc
Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn
Họ sống chiến đấu càng khó khăn
Tháng ba ở Tây Nguyên đỏ lửa
Tháng tư lại đi xa hơn nữa
Đường đi ra đảo đường trong mây
Những người trở về mấy ai hay
Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt
Muốn làm cách mạng nhưng lại dát!

30.
Đường chúng ta đi trong gió lửa
Còn mơ chi tới những cánh buồm
Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất
Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm.

31.
Tấm áo hào hoa bạc gió mưa
Anh thành đồng chí tự bao giờ
Trăng còn một mảnh treo đầu sung
Cái ghế quan trường giết chết thơ.

32.
Bao năm ngậm ngải tìm trầm
Giã từ quê mẹ xa dòng Hương giang
Bạc đầu mới biết lạc đường
Tay không nay lại vẫn hoàn tay không
Mộng làm giọt nước ôm sông
Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay

33.
Một con trâu bạc già nua
Nhờ cơn bão biển thổi lùa lên mây
Trâu ơi ta bảo trâu này
Quay về đất mặn kéo cày cho xong.

34.
Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên
Chia xôi chia thịt lại chia tiền
Việc làng việc nước là như vậy
Lộn xộn cho nên phải tắt đèn.

35.
Em còn đôi mắt ngây thơ
Sống mòn mà vẫn đợi chờ tương lai
Thương cho thị Nở ngày nay
Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo!

36.
Xoắn mãi dây tình thơ bật ra
Paris thì thích hơn ở nhà
Đông y ắt hẳn hơn tây dược
Xe tải không bằng xe Volga
Trên đời kim cương là quí nhất
Thứ đến tình thương dân nghèo ta
Em chớ cho anh già lẩm cẩm
Còn hơn thằng trẻ lượn Honda.

37.
Em không nghe mùa thu
Mùa thu chỉ có lá
Em không nghe rừng thu
Rừng mưa to gió cả
Em thích nghe mùa xuân
Con nai vàng ngơ ngác
Nó ca bài cải lương.

38.
Một mặt đường khát vọng
Cuộc chiến tranh đi qua
Rồi trở lại ngôi nhà
Đốt lên ngọn lửa ấm
Ngủ ngon a kai ơi
Ngủ ngon a kai à...

39.
Anh Keng cưới vợ tháng mười
Những đứa con lại ra đời tháng năm
Trong làng kháo chuyện rì rầm
Vụ mùa chưa gặt thóc đã nằm đầy kho.

40.
Ấy bức tranh quê đẹp một thời
Má hồng đến quá nửa pha phôi
Bên sông vải chín mùa tu hú
Khắc khoải kêu chi suốt một đời.

41.
Đôi vai thì gánh lập trường
Đôi tay sờ soạng ven đường cuối thôn
Nghe anh kể chuyện đầu nguồn
Về nhà thấy mất cái hồn của em.
42.
Nhá nhem khoảng sáng trong rừng
Để cho cuộc thế xoay vần hơn thua
Xác xơ màu tím hoa mua
Lửa chân sóng báo mây mưa suốt ngày.

43.
Chị Tư Hậu đẻ ra anh
Ví như hòn đất nặn thành đứa con
Biển xa gió dập sóng dồn
Đất tan thành đất chỉ còn giấc mơ.

44.
Đi bước nữa rồi đi bước nữa
Phấn son mưa nắng đã tàn phai
Cái kiếp đào chèo là vậy đó
Đêm tàn bạn cũ chẳng còn ai.

45.
Đã đi qua một thời giông tố
Qua một thời cơm thầy cơm cô
Còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ
Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ.

46.
Thơ ông tang tính tang tình
Cây đa bến nước mái đình vườn dâu
Thân ông mấy lượt lấm đầu
Miếng mồi danh lợi mắc câu vẫn thèm.

47.
Bắt đầu từ lão nghị hụt
Cầm dao giết một mạng người
Chị Nhàn phải đi bước nữa
Lấy đại đội trưởng của tôi
Cuộc đời mấy phen nổi gió
Phải đem tổ quốc thề bồi
Lần này ông ra ứng cử
Chắc là trúng nghị viên thôi.

48.
Ông năm Hạng trở về đất lửa
Với chiếc lược ngà vượt Trường Sơn
Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy
Ông biến thành thằng nộm hình rơm.

49.
Có những lớp người đi vỡ đất
Mùa mưa không trồng lúa trồng ngô
Lại gieo hạt bông hường bông cúc
Trên mảnh đất này hoa héo khô.

50.
Chuyện kể cho người mẹ nghe
Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang
Đứa con nuôi của trung đoàn
Phá vây xong lại chết mòn trong vây.